TƯ VẤN SỨC KHỎE1900.8909

Thứ Ba, 8 tháng 4, 2014

Nhận biết sởi và thủy đậu bằng cách nào?

Sau nhiều năm yên ắng, bệnh sởi đang quay trở lại và có những diễn biến bất thường. Nhiều trẻ đang có miễn dịch từ sữa mẹ, chưa đến độ tuổi tiêm phòng vắc-xin sởi vẫn mắc bệnh. Cùng với sởi, thủy đậu cũng bắt đầu “vào mùa” với số trẻ nhập viện ngày càng gia tăng. Sởi và thủy đậu có một số biểu hiện giống nhau như sốt, nổi ban nên các bậc cha mẹ cần biết cách phân biệt hai bệnh này để có cách chăm sóc, xử trí thích hợp.



Bệnh diễn biến phức tạp:


Theo Cục Y tế dự phòng - Bộ Y tế, bệnh sởi bùng phát tại một số địa phương từ cuối tháng 12/2013 với số ca mắc ngày càng tăng nhanh, diễn biến phức tạp. Hiện tỉnh Yên Bái là gần 730 trường hợp mắc sởi (trong đó có 2 trường hợp tử vong), TP. HCM 138 trường hợp, Lào Cai 120 trường hợp..., trong đó có 7 ca tử vong do mắc sởi. Lo ngại trước diễn biến của dịch sởi, trong những ngày qua, lượng trẻ được đưa đến khám sàng lọc sởi tại các bệnh viện do có các triệu chứng sốt, phát ban có dấu hiệu tăng mạnh. Có ngày khoa Nhi - Bệnh viện Bạch Mai tiếp nhận tới 15 - 20 trẻ bị sởi, phát ban dạng sởi đến khám.

Tương tự, khoảng 1 tuần nay tại khoa Truyền nhiễm - Bệnh viện Nhi Trung ương, trung bình mỗi ngày cũng tiếp nhận 15 - 20 trẻ nghi sởi vào điều trị. Còn theo thống kê từ Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội, từ đầu năm đến nay Hà Nội đã phát hiện 98 trường hợp sốt phát ban nghi sởi, trong đó 30 trường hợp có kết quả xét nghiệm dương tính với sởi.

Bệnh sởi

Phân biệt thế nào?

Mùa của bệnh thủy đậu  thường là sau Tết khoảng tháng 2 kéo dài đến tháng 6. Trong đó, cao điểm là tháng 3 và tháng 4.

Bệnh sởi  xuất hiện quanh năm nhưng thường xảy ra dịch vào những tháng đông xuân. Bệnh lây qua đường hô hấp do tiếp xúc trực tiếp với chất tiết của mũi, họng bệnh nhân. Đáng chú ý, do thời gian ủ bệnh kéo dài, trung bình tới 10 ngày nên sởi có thể lây bệnh ngay từ khi bệnh còn chưa khởi phát, nghĩa là trong khoảng thời gian ủ bệnh, virut sởi từ người mang mầm bệnh đã có thể lây cho người khác. Khi mắc bệnh, sởi có khả năng gây suy giảm miễn dịch rất nhanh nên dễ gây ra biến chứng viêm phổi, tiêu chảy, mù lòa, viêm não hoặc tử vong. Vì thế, đến nay sởi vẫn được coi là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm gây dịch và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ em dưới 5 tuổi.


Bệnh sởi bắt đầu với các triệu chứng ban đầu như sốt nhẹ, sau đó sốt cao 39 - 40oC mệt mỏi kèm chảy nước mũi, ho, nổi phát ban. Có thể nhận biết sớm và phân biệt sởi với bệnh lý khác bằng cách dựa vào các triệu chứng cụ thể. Bệnh thường khởi phát bằng triệu chứng sốt cao kèm theo ít nhất một trong các dấu hiệu sau: ho, chảy mũi, nổi hạch (cổ, chẩm, sau tai); viêm kết mạc (đau mắt đỏ, mắt lèm nhèm); sưng đau khớp. Một dấu hiệu nữa để phân biệt sởi với các bệnh lý sốt phát ban khác là với bệnh sởi, các ban đỏ thường xuất hiện từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 7 của bệnh, bắt đầu từ mặt sau đó lan dần xuống dưới chân, tay và rộng ra toàn thân. Vì thế, khi thấy dấu hiệu sốt cao kèm theo phát ban (đỏ toàn thân), có triệu chứng viêm đường hô hấp, viêm kết mạc thì cần nghĩ ngay đến bệnh sởi và phải đến cơ sở y tế khám.

Ban trong bệnh sởi


Còn bệnh thủy đậu sẽ xuất hiện 10 - 14 ngày sau khi tiếp xúc với nguồn bệnh. Bệnh khởi phát đột ngột với triệu chứng nổi mụn nước ở mặt, chi, sau đó lan nhanh ra toàn thân chỉ trong 12 - 24 giờ. Mụn nước có đường kính từ 1 - 3mm, chứa dịch trong. Trường hợp nặng, mụn nước sẽ to hơn hoặc khi bị nhiễm trùng, mụn sẽ có màu đục do chứa mủ. Khi mắc bệnh, trẻ nhỏ thường kèm sốt nhẹ, biếng ăn; ở người lớn thì thường kèm sốt cao, đau đầu, đau cơ, nôn ói. Bệnh kéo dài từ 7 - 10 ngày nếu không có biến chứng, các nốt rạ sẽ khô dần, bong vảy, thâm da nơi nổi mụn nước, không để lại sẹo, nhưng nếu bị nhiễm thêm vi khuẩn mụn nước có thể để lại sẹo.


Làm gì khi mắc bệnh?

Đối với những trường hợp mắc sởi nhẹ không cần phải nhập viện mà được hướng dẫn điều trị tại nhà. Người bệnh cần được nằm cách ly, tránh gió lạnh, nghỉ làm việc, khi sốt có thể dùng thuốc hạ sốt, ăn thức ăn mềm, hạn chế tiếp xúc và thường xuyên đeo khẩu trang. Tuyệt đối không tự ý sử dụng các loại thuốc Đông y, nếu dùng thuốc kháng sinh thì phải tuân theo chỉ định của bác sĩ. Nếu trẻ sốt cao liên tục, khó thở, tiêu chảy mất nước, ho nhiều… thì lúc đó phải đưa đến bệnh viện điều trị để tránh biến chứng nguy hiểm. Để phòng bệnh, biện pháp tốt nhất là tiêm vắc - xin phòng bệnh sởi. Tất cả những trẻ đã quá lịch tiêm chủng, chưa bị mắc sởi thì nên đến cơ sở y tế để được tư vấn và tiêm chủng đầy đủ.

Thủy đậu

Đối với bệnh thủy đậu thì việc chăm sóc da cho người bệnh là rất quan trọng. Biến chứng nhiều nhất của thủy đậu chính là nhiễm trùng nốt rạ, độ nặng có thể làm nhiễm trùng máu hoặc nhiễm trùng sâu sẽ để lại sẹo. Khi nốt rạ bị vỡ, cố gắng không để bệnh nhân gãi vào nhằm giảm khả năng bội nhiễm. Người lớn và trẻ nhỏ đều cần phải được tiêm vắc-xin để phòng tránh. Nếu chăm sóc tốt bệnh sẽ tự khỏi, bệnh nhân nào có sức đề kháng tốt thì các nốt rạ xuất hiện ít và ngược lại. Việc dân gian cho rằng cần trùm kín để các nốt phát ra nhiều mới mau lành bệnh, đã làm ủ ẩm vùng da có các nốt rạ khiến các mụn nước bị bưng bít, gây mủ và khuẩn trùng.

 
Phòng bệnh hiệu quả bằng tiêm vắc-xin
Theo các nhà chuyên môn, nguyên nhân của việc gia tăng bệnh sởi là do cha mẹ không tiêm phòng đầy đủ khi trẻ được 9 tháng tuổi và không tiêm nhắc lại khi trẻ đủ 18 tháng tuổi. Đặc biệt, do thời gian gần đây, các bậc phụ huynh lo sợ những rủi ro trong tiêm phòng nên không cho trẻ đi tiêm. Sỏi có thể gây những biến chứng nặng như viêm tai giữa, viêm phế quản, viêm phổi, viêm thanh quản... hoặc mù do khô loét giác mạc vì thiếu vitamin A. Thậm chí bệnh có thể dẫn đến viêm não, viêm cơ tim có thể tử vong nếu không được chăm sóc và điều trị đúng. Chính vì vậy, cần cho trẻ đi tiêm phòng đầy đủ và đúng lịch theo khuyến cáo của cán bộ y tế để phòng bệnh. Cũng như bệnh sởi, bệnh thuỷ đậu có thể phòng tránh nếu như được tiêm vắc-xin phòng bệnh đầy đủ... Khi trẻ mắc bệnh, cần cách ly trẻ ở nhà, không nên đưa trẻ đến trường nhằm tránh lây lan.

Chú ý: Trên đây là những thông tin bạn có thể tham khảo, nếu bạn có bất kỳ thắc mắc nào về tâm lý và sức khoẻ, hãy gọi điện đến tổng đài tư vấn 19008908 hoặc 19008909 để nhận được sự tư vấn trực tiếp và cụ thể từ các chuyên gia

Thứ Năm, 3 tháng 4, 2014

Tìm hiểu về HIV/AIDS và chuyện yêu



Tình dục với người bình thường thì là bản hoan ca, nhưng với những người có HIV/AIDS thì sao? Ngay chính những người bị nhiễm bệnh đó cũng băn khoăn tự hỏi, liệu có được lên đỉnh, phải có những biện pháp, những "đòn" gì để đối tác cùng hòa nhịp... Phần hỏi đáp dưới đây sẽ giúp bạn phần nào giải tỏa thắc mắc.


Làm thế nào để phụ nữ chống lại được sự lây nhiễm HIV?
Tổ chức phòng chống AIDS của Liên hợp quốc (UNAIDS) đã đưa ra một thông điệp gồm 6 điểm để bảo vệ phụ nữ khỏi bị lây nhiễm HIV, tóm tắt như sau: các em gái được đi học, hiểu biết về chính cơ thể mình.  Tiếp cận dễ dàng với dịch vụ phòng tránh HIV/AIDS. Phát triển phương pháp phòng tránh mà phụ nữ chủ động sử dụng được. Giáo dục nam thanh niên biết tôn trọng bạn gái, có ý thức trách nhiệm trong hành vi tình dục. Nâng cao sự độc lập về kinh tế cho phụ nữ. Xây dựng các thể chế nhà nước nhằm giúp phụ nữ.
Khi phụ nữ không bị nhiễm HIV nhưng chồng lại có HIV dương tính thì có thể có thai không?
Nhiều phụ nữ trong hoàn cảnh này đã chọn biện pháp thực hành tình dục không dùng bao cao su (BCS) vào thời điểm dễ có thai nhưng biện pháp này có thể làm cho người phụ nữ đối diện với nguy cơ cao bị nhiễm HIV. Chỉ nên chọn giải pháp thụ tinh nhân tạo với tinh trùng của người cho có HIV âm tính.
Phòng lây nhiễm HIV cho phụ nữ
- Hành vi tình dục tương đối an toàn là mang BCS; kiêng hẳn quan hệ tình dục là cách duy nhất an toàn để tránh bệnh lây truyền qua tình dục và HIV. Không quan hệ tình dục với người không rõ về lịch sử tình dục, người có nhiều bạn tình, người nghi ngờ bị nhiễm HIV; người tiêm chích ma tuý; bản thân không nên có nhiều bạn tình.
- Không tiêm chích ma tuý; nếu có không dùng chung bơm và kim tiêm.
- Người bị  AIDS hoặc có kháng thể với HIV dương tính thì có thể lây nhiễm bệnh cho người khác cho nên những người này không được hiến máu, hiến phủ tạng hay tinh dịch.  Không được để dịch cơ thể (kể cả nước bọt) truyền sang nhau khi quan hệ tình dục.
- Cần khám phụ khoa định kỳ và điều trị các bệnh lây truyền qua đường tình dục nếu có vì những bệnh này dễ làm lây nhiễm HIV.


Ảnh minh họa
Đánh giá khả năng phòng ngừa HIV/AIDS của bao cao su (BCS)
Trên bình diện xã hội, khi hàng ngày có hàng triệu người thực hành tình dục không an toàn (nhiều bạn tình, quan hệ với gái mại dâm), tự phơi nhiễm với các bệnh LTTD, coi thường việc bảo vệ sức khoẻ cho mình thì việc tuyên truyền, vận động dùng BCS - coi đó là phương pháp hiệu quả để phòng lây nhiễm HIV cho cộng đồng là việc cần thiết, để hạn chế những ca lây nhiễm mới.
Đối với từng cá nhân thì cần phân tích dựa trên những nghiên cứu thực tế: một nghiên cứu cho thấy rằng BCS có hiệu quả phòng chống HIV/AIDS với tỷ lệ khoảng 69% số lần dùng bao. Một nghiên cứu khác cho thấy nữ dùng thường xuyên thì tỷ lệ bảo vệ là 90 - 95% nhưng dùng "ngẫu hứng" thì khả năng thất bại lại cao đến 97% số lần dùng bao. Hơn nữa, người ta cũng nhận thấy có đến 8% bao bị rách hoặc bao bị tuột trong khi quan hệ tình dục - những sự cố như thế là những sự cố chết người.
Vậy có thể nói BCS không phải là phương pháp hoàn hảo để phòng tránh các bệnh LTTD/HIV, bề dày của nó chỉ là 7 phần trăm milimét, thật là mỏng và đó là khoảng cách mong manh giữa người dùng và căn bệnh chết người HIV/AIDS. Thế mà trong một khảo sát khác người ta còn nhận thấy có đến 1,5% số BCS mua ngẫu nhiên tại các cửa hiệu đã vỡ khi thử nghiệm; cũng không thể thử độ an toàn của bao vì nếu lấy bao ra và thổi lên để xem có rách không thì đã làm cho thành bao yếu đi và càng dễ rách. Cứ cho rằng dùng BCS có thể phòng chống HIV/AIDS cao đến 95% số lần dùng bao thì vẫn còn 5% số lần có thể nhiễm bệnh. Còn nếu cho rằng tỷ lệ bảo vệ của BCS là 69% số lần dùng thì cứ 3 lần quan hệ tình dục với người đã nhiễm HIV thì có 1 lần có nguy cơ bị nhiễm.
Nói đến sự không hoàn hảo của BCS không có ý cho rằng dùng BCS cũng không ăn thua gì mà trái lại còn muốn nhấn mạnh đến việc phải luôn luôn dùng BCS và dùng đúng cách để không rơi vào khoảng mà BCS không thể bảo vệ.
Vậy thông điệp quan trọng nhất cần gửi tới người sử dụng là không bao giờ quan hệ tình dục với bạn tình chưa đáng tin cậy mà không dùng BCS và việc dùng 2 BCS là hoàn toàn có thể được, là nhân đôi độ an toàn (có người còn cho rằng đó là cách để triêt tiêu nguy cơ lây nhiễm).
BS. Đào Xuân Dũng
Suckhoedoisong.vn
Chú ý: Trên đây là những thông tin mà bạn có thể tham khảo, nếu bạn có bất kỳ thắc mắc nào về tâm lý và sức khoẻ, hãy gọi điện đến tổng đài tư vấn 19008908 hoặc 19008909 để nhận được sự tư vấn trực tiếp và cụ thể từ các chuyên gia.
- See more at: http://www.cachchuabenh.net/benh-truyen-nhiem/tim-hieu-ve-hiv-aids-va-chuyen-yeu-n98-3925#sthash.59vXZHuh.dpuf


Nguồn cachchuabenh.net
Tin liên quan:

Thứ Tư, 2 tháng 4, 2014

Bắt bệnh qua khí hư


Sự thay đổi chút ít trong chu kỳ là hoàn toàn bình thường. Tất nhiên, khi sự tiết dịch có thay đổi rõ rệt về màu sắc, tính chất hoặc có mùi thì đó có thể là dấu hiệu bệnh lý. Lúc này, sự tiết dịch gọi là khí hư (huyết trắng).
Một số gợi ý sau đây giúp phụ nữ nhận biết sự xuất tiết không bình thường.
Chất xuất tiết âm đạo có màu trắng như bột và ngứa: Có thể bị viêm âm đạo do nấm hay phối hợp với trùng roi. Bình thường, trong môi trường âm đạo vẫn có vi khuẩn lành tính tạo ra độ toan nhẹ cho âm đạo để khống chế sự phát triển của nấm Candida albicans. Bất cứ nguyên nhân gì tiêu diệt vi khuẩn âm đạo tạo ra độ toan đều làm cho nấm phát triển, ví dụ dùng thuốc kháng sinh dài hạn, thường xuyên thụt rửa âm đạo, xịt nước hoa…

Chất xuất tiết âm đạo có màu xanh hơi vàng và có mùi hôi:
Nếu kèm đau bụng dưới thì cần đi khám ngay vì có thể do nhiễm khuẩn cấp ở tử cung, ở hai vòi trứng và các mô xung quanh (nên gọi là viêm tiểu khung). Bệnh lý này có thể không có nguyên nhân rõ ràng nhưng thường lan truyền từ âm đạo, từ quan hệ tình dục hoặc sau nạo thai, sảy thai. Triệu chứng thường gặp nhất là xuất tiết âm đạo có màu sắc bất thường, mùi hôi (có khi như mủ) - đau vùng bụng dưới - sốt (không thường xuyên).
Xuất tiết âm đạo nhiều, hôi, kèm theo ngứa, rát: Có thể bị viêm âm đạo do trùng roi.
Khi mất cân bằng hệ vi sinh: Tức là bị loạn khuẩn âm đạo, nếu lại thêm cả nhiễm khuẩn sẽ là viêm âm đạo do loạn khuẩn. Biểu hiện của rối loạn này là các khó chịu như ngứa, đau rát hay mùi hôi.
Chất xuất tiết đỏ hay có màu nâu và/hoặc đôi khi có ra máu giữa kỳ: Cần đi khám để loại trừ ung thư cổ tử cung. Bệnh nguy hiểm này thường không có những dấu hiệu hay triệu chứng sớm, vì thế, điều quan trọng là cần xét nghiệm tế bào âm đạo - cổ tử cung ít nhất mỗi năm 1 lần cho phụ nữ từ 40 tuổi trở lên, người có yếu tố nguy cơ còn cần làm sớm hơn (gia đình có người đã từng bị ung thư, quan hệ tình dục sớm, nhiều bạn tình bị viêm nhiễm âm đạo do HPV). Khi đã xuất hiện các dấu hiệu thì có thể bệnh đã tiến triển. Các dấu hiệu và triệu chứng: ra khí hư bất thường (không phải vào ngày có kinh). Ra máu âm đạo ít, ngoài kỳ kinh. Đau và ra máu khi quan hệ tình dục. Bệnh cảnh nói trên chưa hẳn đã là do ung thư nhưng cần gặp thầy thuốc để xác định.
Việc điều trị tùy thuộc vào nguyên nhân nào gây ra sự xuất tiết không bình thường nhưng có thể đặt âm đạo viên nang (hay viên nén) có chứa cả 3 loại thuốc chữa nấm, trùng roi và vi khuẩn (do thầy thuốc chỉ định).
Vì vậy, nếu thấy chất xuất tiết âm đạo có mùi hôi khác thường, kể cả khi không quan hệ tình dục cũng cần được thầy thuốc phụ khoa khám để xác định có thực sự viêm âm đạo và viêm do nguyên nhân gì.
BS.Xuân Anh
Theo Sức khỏe & đời sống
Trên đây là một số thông tin tham khảo về sức khỏe sinh sản. Để biết thêm thông tin vế sức khỏe, tâm lý các bạn hãy gọi điện tới tổng đài chăm sóc sức khỏe trực tuyến 19008908 hoặc 19008909 để nhận được hỗ trợ trực tiếp từ các chuyên gia.







Thứ Ba, 1 tháng 4, 2014

Dấu hiệu mắc bệnh lây qua đường tình dục


Thông thường, các bệnh lây truyền qua đường tình dục ban đầu thường không có biểu hiện rõ ràng, vì thế nhiều người không biết mình đã mắc bệnh nên không đi khám và điều trị sớm dẫn đến bệnh nặng hơn gây khó khăn cho việc điều trị và có thể làm lây bệnh cho người khác.
Tác nhân lây truyền qua đường tình dục
Các bệnh lây qua đường tình dục là tình trạng nhiễm khuẩn hoặc bệnh được truyền từ người nọ sang người kia do nhiều tác nhân. Thông thường thì các tác nhân này lây truyền qua hoạt động tình dục (giao hợp qua đường âm đạo, đường miệng hoặc đường hậu môn) không được bảo vệ với người đang mang bệnh. Ngoài ra còn lây qua mẹ truyền cho con khi có thai, khi cho con bú và các dụng cụ tiêm, chích vào da.
Các tác nhân gây bệnh rất đa dạng bao gồm: Vi khuẩn: Gây bệnh lậu, giang mai, hạ cam, liên cầu B, lỵ trực trùng…; Vi rút: Gây bệnh viêm gan B, viêm gan C, HIV, herper, sùi mào gà,…; Liên thể vi khuẩn và vi rut: gây bệnh chlammydia, ureaplasma,...; Ký sinh trùng: gây bệnh trùng roi, rận mu, nấm men….
Hầu hết các bệnh lây truyền qua đường tình dục (LTQĐTĐ) đều làm cơ thể chúng ta trở nên yếu hơn và làm gia tăng nguy cơ lây nhiễm HIV, hoặc khi đã mắc các bệnh LTQĐTD lại bị nhiễm HIV thì bệnh LTQĐTD sẽ thúc đẩy HIV phát triển rất nhanh chóng trong cơ thể và thời gian tiến triển thành AIDS nhanh hơn; gây sảy thai, vô sinh, truyền bệnh từ mẹ sang con, gia tăng nguy cơ ung thư,...
Dấu hiệu mắc bệnh lây qua đường tình dục 1
Tư vấn sức khỏe sinh sản tại Trung tâm CSSKSS tỉnh Hải Dương.
Ảnh: Hồng Thúy
Một số dấu hiệu cần đi khám?
Có một số bệnh chỉ cho thấy dấu hiệu của bệnh sau khi đã nhiễm bệnh một thời gian dài. Ví dụ như bệnh do Chlamydia hoặc người nhiễm vi rút viêm gan B, C, thậm chí nhiễm vi rút HIV, rất nhiều trường hợp triệu chứng ban đầu không rõ ràng, chỉ khi người bệnh làm xét nghiệm mới biết chính xác.
Trước tiên, nếu bạn đã quan hệ tình dục với một người mà bạn không biết chắc là không có bệnh, hoặc sau khi có quan hệ tình dục không an toàn bạn nên nghi ngờ tới khả năng là mình mắc bệnh và cần đến cơ sở y tế chuyên khoa để khám và điều trị nếu được chẩn đoán đã mắc bệnh.
Bên cạnh đó, cần chú ý các triệu chứng cơ bản của một số bệnh LTQĐTD như sau:
- Có dịch bất thường chảy ra từ âm đạo hoặc đầu dương vật.
- Hậu môn hoặc cơ quan sinh dục bị ngứa, đau, đỏ, rát hoặc có các nốt, các vết loét bất thường. Các tổn thương này có thể đau hoặc không đau.
- Tiểu đau, buốt hoặc rát, hoặc tiểu nhiều hơn bình thường.
- Đau bất thường ở vùng bụng dưới mà không liên quan gì tới chu kỳ kinh nguyệt.
- Đau khi giao hợp hoặc có ra máu sau quan hệ tình dục,…
Khi thấy có một trong những biểu hiện trên người bệnh cần đến ngay cơ sở y tế chuyên khoa để được khám, xét nghiệm chẩn đoán bệnh chính xác và điều trị đúng. Không được tự ý dùng thuốc, cần tuân thủ đúng chỉ định của bác sĩ là dùng thuốc đúng liều, đủ thời gian, không bỏ thuốc khi thấy đỡ triệu chứng. Khi dùng hết thuốc cần nên đi khám lại để được biết bệnh đã khỏi hay cần điều trị tiếp.

                                                                                                                                                                                                                                                                                                            BS.Thanh Bình

Thứ Tư, 26 tháng 3, 2014

Bệnh cúm lây lan như thế nào?

Khi xuất hiện các triệu chứng như sốt, ớn lạnh, nhức đầu, chóng mặt, mất cảm giác thèm ăn … có thể đó là những dấu hiệu của bệnh cúm. Thực tế bệnh cúm có lây truyền không? Và lây truyền như thế nào. Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn giải đáp câu hỏi đó.




Bệnh cúm dễ lây lan qua những giọt chất dịch tiết ra khi người bệnh ho hoặc hắt xì hơi vào không khí

Bệnh cúm có lây không?

Theo các chuyên gia, cúm thông thường lây lan qua những giọt chất dịch tiết ra khi người bệnh ho hoặc hắt hơi vào không khí. Những người nhiễm bệnh có khả năng lây bệnh khi họ có các triệu chứng bệnh (khoảng 1 tuần ở người lớn và 2 tuần ở trẻ nhỏ).
Bệnh cúm thường xảy ra ở phạm vi vài ổ dịch nhỏ, nhưng các đợt dịch lớn có khuynh hướng xảy ra sau mỗi vài năm. Các đợt dịch (khi bệnh lây lan nhanh và ảnh hưởng đến nhiều người tại một khu vực trong cùng thời điểm) xảy ra cao điểm trong vòng 2 hoặc 3 tuần sau khi những ca bệnh đầu tiên xuất hiện và sau đó bắt đầu giảm dần.

Tiêm vaccine phòng ngừa bệnh cúm

Việc vaccine ngừa cúm thường được tiến hành từ tháng 9 đến giữa tháng 11 (mặc dù việc vaccine này có thể thực hiện vào các thời điểm khác trong năm). Tiêm vaccine giúp giảm nguy cơ mắc bệnh cho một người đến 80% vào mùa bệnh.
Tuy nhiên do vaccine ngừa cúm ngăn ngừa sự nhiễm của chỉ một vài virus có thể gây ra các triệu chứng giống cúm nên việc tiêm vaccine này cũng không đảm bảo bạn và gia đình không mắc bệnh vào mùa cúm, song nó giúp bệnh nhân giảm bớt số các triệu chứng và các triệu chứng cũng nhẹ hơn so với người không tiêm vaccine.
Tuy nhiên bạn nên lưu ý rằng việc tiêm vaccine ngừa cúm cho trẻ từ năm ngoái sẽ không có tác dụng bảo vệ trẻ trong mùa cúm năm nay, bởi khi đó vaccine đã hết hiệu lực và vì virus cúm luôn biến đổi hàng năm. Điều này cũng giải thích vì sao vaccine cúm luôn được hiện đại hóa mỗi năm, bao gồm cả các chủng virus mới nhất.

Những đối tượng nên và không nên tiêm ngừa cúm

Những đối tượng sau nên tiêm ngừa cúm:
  • Tất cả trẻ từ 6 tháng tuổi đến 18 tuổi
  • Người từ 50 tuổi trở lên
  • Phụ nữ dự định mang thai
  • Người có bệnh tim, phổi, thận, gan, suyễn, rối loạn chuyển hóa như tiểu đường, thiếu máu và các rối loạn về máu khác
  • Người nhiễm HIV/AIDS hoặc mắc những bệnh có ảnh hưởng lên hệ miễn dịch
  • Người điều trị kéo dài với corticoide
  • Người điều trị ung thư với tia xạ hoặc thuốc
  • Người có rối loạn về cơ và thần kinh có thể dẫn đến khó thở, khó nuốt
  • Người từ 6 tháng đến 18 tuổi đang điều trị aspirin dài hạn vì có thể bị Hội chứng Reye nếu bị cúm.
  • Những người ở trong nhà an dưỡng hoặc các cơ sở chăm sóc bệnh mạn tính
  • Nhân viên y tế
  • Người chăm sóc hoặc có tiếp xúc trong gia đình với trẻ 0 đến 5 tuổi, người từ 50 tuổi trở lên, những người bệnh có nguy cơ cao mắc cúm bị biến chứng nặng.
Những đối tượng không nên tiêm ngừa cúm:
Có một số trường hợp không chích ngừa cúm được hoặc nên hoãn chích một thời gian:
Những trường hợp KHÔNG chích ngừa cúm được:
  • Người bị dị ứng nặng với trứng
  • Người bị dị ứng nặng với bất kỳ thành phần nào của vắc xin
  • Người bị dị ứng nặng với lần chích ngừa vắc xin cúm trước đó.
Những trường hợp nên HOÃN chích ngừa cúm:
  • Những người đang mắc bệnh ở mức độ trung bình hoặc nặng, thường nên chờ cho đến khi hồi phục mới chích ngừa cúm.
  • Những người mắc bệnh ở mức độ nhẹ thường có thể chích ngừa cúm được.

Thứ Hai, 24 tháng 3, 2014

Chăm sóc người nhiễm HIV

Chăm sóc người chuyển sang giai đoạn AIDS nhằm kéo dài thời gian sống, tăng cường chất lượng cuộc sống, phòng lây nhiễm ra ngoài cộng đồng.

Tại sao phải chung sống với HIV/AIDS?

- Trong thời kỳ chưa có biểu hiện lâm sàng, người nhiễm HIV vẫn lao động bình thường, vẫn có khả năng đóng góp lao động của họ cho gia đình và xã hội.

- Có thể sống chung với người nhiễm HIV/AIDS vì HIV không lây qua các tiếp xúc thông thường. HIV/AIDS tuy dễ lây nhưng vẫn có thể phòng tránh.

- Ai cũng có thể nhiễm HIV, người nhiễm HIV không phải là tội phạm và cần được giúp đỡ.

- Tạo môi trường tốt và cư xử một cách công bằng với người nhiễm HIV/AIDS giúp họ có chất lượng cuộc sống tốt hơn và tham gia tích cực hơn vào các hoạt động phòng tránh, chăm sóc bản thân họ và người nhiễm khác đồng thời có nhiều nỗ lực cho việc bảo vệ cộng đồng.

Quá trình phát triển của bệnh

Một người nhiễm HIV thì không có nghĩa là cuộc sống của họ sẽ bị ngừng lại.Từ khi nhiễm HIV cho đến khi chuyển thành AIDS là một khoảng thời gian dài từ 2 đến 10 năm và có thể còn lâu hơn nữa. Trong thời gian đó người nhiễm vẫn sống khỏe mạnh và làm việc bình thường. Khi HIV xâm nhập vào cơ thể sẽ có 3 xu hướng phát triển:

- Hoặc ng­ười đó mang HIV kéo dài trong 10 năm hoặc lâu hơn mà vẫn khoẻ mạnh và làm việc bình thường nếu họ thay đổi hành vi, thực hiện chế độ dinh d­ưỡng và rèn luyện thân thể tốt.

- Hoặc sẽ phát triển thành AIDS trong vòng 5-7 năm nếu để cho HIV diễn biến tự nhiên trong cơ thể.

- Hoặc sẽ diễn biến rất nhanh thành AIDS trong vòng vài năm nếu tiếp tục có các hành vi nguy cơ (như dùng chung bơm kim tiêm khi tiêm chích, tiếp tục quan hệ tình dục với nhiều người ...) điều đó một mặt sẽ làm lây truyền HIV cho người khác, mặt khác họ sẽ bị nhiễm thêm HIV từ người khác hoặc bị các nhiễm trùng bội nhiễm kích hoạt cho HIV sản sinh nhanh trong cơ thể làm tiêu huỷ nhanh hệ thống miễn dịch và người đó tự rút ngắn cuộc đời lại.

- Khi một người đã diễn biến thành AIDS, tuỳ điều kiện thuốc men và chăm sóc, người đó có thể sống thêm 1- 5 năm nữa.

- Các thuốc điều trị hiện nay chỉ nhằm chữa các bệnh nhiễm trùng cơ hội và làm chậm lại quá trình phát triển của virus.

Tự chăm sóc bản thân

- Cơ thể bạn cần có thời gian nghỉ ngơi. Cố gắng ngủ 8 tiếng một ngày và hãy nghỉ ngơi bất cứ khi nào bạn cảm thấy mệt mỏi.

- Cố gắng gạt đi những buồn phiền, sầu não bởi vì căng thẳng và lo lắng sẽ rất có hại tới khả năng miễn dịch của cơ thể bạn. Hãy nghỉ ngơi, gặp gỡ những người bạn yêu quý và làm những gì mà bạn thích, chẳng hạn như nghe nhạc, đọc sách, báo...

-  Hãy biết quý bản thân mình. Cố gắng giữ niềm tin mà bạn đang có trong cuộc sống.

- Tìm và đón nhận sự trợ giúp và những lời khuyên tốt từ các bác sỹ,...

-  Không nên hút thuốc lá bởi nó rất có hại tới phổi và những bộ phận khác trên cơ thể bạn và sẽ làm cho các loại bệnh cơ hội khác dễ dàng tấn công hơn.

- Rượu cũng đặc biệt có hại tới sức khoẻ của bạn, đặc biệt là ảnh hưởng tới gan. Bên cạnh đó, rượu có thể làm bạn dễ dàng có những hành vi tình dục mà quên đi các biện pháp phòng tránh an toàn.

- Cũng nên tránh những loại thuốc không cần thiết bởi chúng thường có những tác động phụ và có thể ảnh hưởng tới thức ăn và dinh dưỡng của bạn. Nếu bạn sử dụng thuốc thì hãy đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng.

Cuộc sống tình dục

Cũng giống như những người bình thường khác, nhu cầu tình dục của người nhiễm cũng song song tồn tại cùng với những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống con người như ăn uống, hít thở, sinh sống và quan hệ tình dục.
Kết quả xét nghiệm HIV dương tính có ảnh hưởng lớn tới tâm lý của người bệnh và nhu cầu tình dục cũng chịu sự ảnh hưởng đó. Trong khoảng thời gian đầu sau khi biết kết quả HIV dương tính, cùng với những cảm giác chán chường, mất niềm tin vào cuộc sống, phần lớn những người nhiễm HIV còn rơi vào trạng thái thờ ơ với cuộc sống tình dục. Tuy nhiên, cảm giác này sẽ dần qua đi khi người đó lấy lại được sự cân bằng trong tâm lý và cuộc sống hiện tại của họ và khi đó nhu cầu tình dục sẽ trở lại vì đây là một bản năng rất tự nhiên của con người. Để đảm bảo an toàn cho người thân và hoặc những người khác trong cộng đồng khi quan hệ tình dục cần sử dụng bao cao su và có những hành vi phù hợp, đặc biệt chú ý người nhiễm quan hệ tình dục bằng miệng với bạn tình vẫn có thể lây nhiễm HIV cho bạn tình nếu không bảo vệ.

Những điều lưu ý khi chăm sóc người nhiễm HIV

Ðể phòng lây nhiễm bệnh khi sống chung với người nhiễm HIV, cần tuân thủ một số nguyên tắc đơn giản sau:

- Rửa tay sạch sẽ bằng xà phòng sau khi thay chiếu, chăn, quần áo bẩn hoặc sau khi tiếp xúc với dịch tiết của cơ thể người bệnh.

- Băng kín các vết thương xuất tiết.

- Nếu người bệnh bị chảy máu, cần nhanh chóng rửa sạch bằng các chất liệu tiệt trùng như nước javel, trong khi lau rửa vết máu cần phải mang găng tay (có thể là găng tay dùng trong sinh hoạt hàng ngày), nếu không có găng tay phải dùng giấy hoặc ni lông. Luôn nhớ sau đó phải rửa tay sạch bằng xà phòng.

- Mang găng hoặc lót bằng giấy, túi ni lông khi mang các đồ bẩn.

- Giữ giường, chiếu, quần áo luôn sạch sẽ.

- Khi giặt quần áo hoặc ga giường có dính máu hoặc các dịch tiết khác của cơ thể cần chú ý:

- Ngâm bằng nước javel trong thời gian 20 phút rồi đi găng để giặt.

+ Giặt riêng rẽ với các quần áo của người khác trong gia đình.

+ Giặt bằng xà phòng, vắt khô, gấp và là như bình thường.

+ Không dùng chung các vật đâm qua da, không dùng chung bàn chải đánh răng, dao cạo râu, tăm răng và tất cả các vật sắc nhọn có thể gây chảy máu.
Nguồn: Tổng hợp
Trên đây là một số thông tin tham khảo về sức khỏe. Để biết thêm thông tin về sức khỏe, tâm lý các bạn hãy gọi điện tới tổng đài chăm sóc sức khỏe trực tuyến 19008908 hoặc 19008909 để nhận được hỗ trợ trực tiếp từ các chuyên gia.
- See more at: http://www.cachchuabenh.net/benh-truyen-nhiem/cham-soc-nguoi-nhiem-hiv-n98-2980#sthash.b78i2RTp.dpuf

Tags: bieu hien cua hiv, bieu hien cua benh hiv, triệu chứng hiv giai đoạn đầu


Tin liên quan:

Thứ Bảy, 22 tháng 3, 2014

Xét nghiệm HIV bao lâu mới có kết quả?

Thời gian xét nghiệm HIV sớm nhất tại Việt Nam là bao lâu để chính xác và yên tâm nhất? 
Các xét nghiệm HIV nói chung gồm hai loại: Loại thứ nhất nhằm tìm ra kháng thể kháng HIV, loại thứ hai nhằm tìm ra chính bản thân (toàn bộ hay một bộ phận) của HIV.
Trong tầm soát và chẩn đoán HIV, thông thường người ta sử dụng loại xét nghiệm tìm kháng thể kháng HIV trong máu, bao gồm cả test nhanh, Elisa, Western Blot… Xét nghiệm PCR nhằm tìm ra bản thân virus HIV thường chỉ áp dụng trong chẩn đoán nhiễm HIV sớm cho trẻ sinh ra từ mẹ nhiễm HIV.

Chính vì bản chất của xét nghiệm là tìm kháng thể kháng HIV giúp gián tiếp chẩn đoán cơ thể người đó đã nhiễm HIV, nên đòi hỏi thời gian “chờ” để cơ thể sản sinh kháng thể đủ để xét nghiệm phát hiện được. Khoảng thời gian này gọi là “thời kỳ cửa sổ”, được tính khoảng 3 tháng (một số rất ít trường hợp có thể dài hơn, lên đến 6 tháng).
Do vậy, tiêu chuẩn xác định âm tính đòi hỏi thỏa mãn một trong hai tình huống:
- Xét nghiệm âm tính 2 lần liên tiếp, cách nhau ít nhất 3 tháng, không có hành vi nguy cơ nào phát sinh.
- Xét nghiệm âm tính 1 lần, cách lần có hành vi nguy cơ gần nhất ít nhất 3 tháng.
Một điểm cần lưu ý, do tính chất “âm thầm” của loại virus này, ngành y tế luôn khuyến cáo bệnh nhân đi xét nghiệm HIV càng sớm càng tốt, chứ không chờ đủ thời gian cửa sổ.
Khi có hành vi nguy cơ trước đây, hay thậm chí vừa mới phát sinh hành vi nguy cơ trong tuần trước chẳng hạn, người đó vẫn nên đến làm xét nghiệm kiểm tra. Đây vừa là cơ hội để tham vấn viên cung cấp thêm thông tin về dự phòng, vừa là cơ hội để khách hàng được theo dõi, nhắc nhở cho những lần xét nghiệm tiếp theo cũng như có thể phát hiện nhiễm HIV sớm nhất có thể. Và khi tham vấn HIV, khách hàng có thể hiểu thêm về các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác, và cũng có thể lựa chọn tầm soát nhằm phát hiện sớm những căn bệnh này.
Nói tóm lại, khoảng thời gian 3 tháng được xem là mốc thời gian an toàn cho xét nghiệm tầm soát HIV nói chung.
BS Nguyễn Tấn Thủ
Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng Sức khỏe Nam giới

Trên đây là một số thông tin tham khảo về HIV. Để biết thêm thông tin về sức khỏe, tâm lý các bạn hãy gọi điện tới tổng đài chăm sóc sức khỏe trực tuyến 19008908 hoặc 19008909 để nhận được hỗ trợ trực tiếp từ các bác sỹ.
Tin liên quan: 

Tư vấn sức khỏe 1900 8909

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

 
Design by cachchuabenh.net | Sức khỏe sinh sản | Bệnh truyền nhiễm | Sức khỏe trẻ em